Monday, February 22, 2010

Giấc mơ làm ông chủ

Ít nhất hơn 50% các doanh nhân khởi nghiệp sẽ thất bại sau năm đầu tiên, và 80% sẽ thất bại sau 10 năm nữa, chỉ có những doanh nghiệp thật sự mạnh mới tồn tại được.

Nhân đọc chuyên mục “Làm giàu” của VnExpress.net, tôi thấy các ý kiến của các anh và các bạn đều đáng trân trọng và thể hiện một sự khát khao cũng như một mối ưu tư về con đường sự nghiệp của bản thân. Lúc nào một vấn đề cũng có hai luồng ý kiến khác nhau và không hẳn là những ý kiến ấy trái ngược nhau, chỉ là những ý kiến ấy được đúc kết từ những kinh nghiệm thực tế khác nhau của mỗi người khác nhau mà thôi.

Tôi hiện đang là sinh viên của trường kinh doanh của đại học quốc gia Singapore (một trong những trường kinh doanh của châu Á được công nhận trên thế giới). Trước đây tôi là cựu sinh viên của Đại học Ngoại Thương và cũng đã trăn trở về cái khái niệm làm giàu rất nhiều. Ngay từ khi học lớp 10, tôi đã bị cuốn hút vào cái thế giới đầy mê hoặc của một doanh nhân và say mê biết bao câu chuyện thành công của những doanh nhân thành đạt. 16 tuổi tôi đã “kinh doanh” (gọi là buôn bán thôi) và cũng kiếm được tiền trang trải cho tiêu xài cá nhân từ đó. Lúc ấy tôi là một con buôn chính hiệu: Một đồng vốn phải đẻ ra ba đồng lời, thuận mua vừa bán.

Thế rồi cái suy nghĩ con buôn ấy phát triển dần theo năm tháng khi tôi trưởng thành hơn và dần dần hình thành nên cái lối tư duy mà sách vở gọi là “tư duy doanh nhân”: Xã hội đang thiếu gì, mình sẽ phục vụ ai, mình sẽ buôn bán cái gì (hay kinh doanh lĩnh vực gì). Nghĩ đến đó tôi thấy quả thực cuộc đời không thật sự đơn giản như mình tưởng, muốn thoát kiếp con buôn và muốn trở thành một chủ doanh nghiệp thì phải đi học. Thế là tôi thi vào Ngoại thương, và sau này là trường kinh doanh của Đại học quốc gia Singapore với hy vọng sẽ được “rèn luyện” để trở thành một doanh nhân.

Nhưng tôi lầm! Cái mà họ bên này rèn và luyện tôi không phải là để cho ra lò một doanh nhân, mà họ rèn và đúc ra lò một người “thợ” có tố chất và suy nghĩ như một doanh nhân (entrepreneurship-centered). Và tôi là “thợ” thật, một anh “thợ” sẽ đi xin việc và làm việc cho ông chủ của mình không phải để nhận lương, mà để cho thấy giá trị của công việc của mình. Vòng đời của một tân cử nhân sẽ là như sau: “thợ” - chuyên viên - chuyên gia - quản lý cấp cao - hội đồng quản trị -... ?. Dấu hỏi chấm ở đây là giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp của một cá nhân: Sẽ là một chủ doanh nghiệp của riêng mình? Hay là một nhà đầu tư cá nhân? Hay là sẽ là Chủ tịch HĐQT của chính công ty mình đã làm thuê?

Viết ra như vậy để thấy rằng mối quan hệ “thợ” - ông chủ là một mối quan hệ nhiều lớp và từ “thợ” trở thành ông chủ đòi hỏi thời gian, tiền bạc và rất nhiều kinh nghiệm. Ở hai cực của mối quan hệ ấy thì bản chất vị trí còn rõ ràng, nhưng ở giữa mối quan hệ ấy và nếu cận trên thì một cá nhân tuy không sở hữu doanh nghiệp ấy hay sở hữu một phần cũng có những ảnh hưởng quyền lực nhất định và có thể coi là những “ông chủ” không chính thức.

Sau đây là một số những điểm chung mà tôi nhận thấy khi quan sát các câu chuyện thành công trên thế giới và ở Việt Nam:

1. Các ông chủ của các công ty lớn khi lập nghiệp đa số là “thợ” hoặc có tư chất là “thợ” giỏi .

2. Các ông chủ của các công ty lớn (kể cả cổ đông) hầu hết đều trên 50 tuổi.

3. Chỉ một số nhỏ các ông chủ hiện giờ là do thừa hưởng, một số khác là do mua lại và số còn lại được bầu do HĐQT.

4. Ít nhất hơn 50% các doanh nhân khởi nghiệp sẽ thất bại sau năm đầu tiên, và 80% sẽ thất bại sau 10 năm nữa, chỉ có những doanh nghiệp thật sự mạnh mới tồn tại được.

5. Số lượng doanh nghiệp thì nhiều, nhưng số lượng các DN có lợi nhuận thì không nhiều.

Có bốn câu nói mà tôi luôn trăn trở khá nhiều:

1. Phi thương thì bất phú: Ông bà ta dạy rất đúng, không kinh doanh thì không thể làm giàu được. Tuy nhiên tôi chỉ xem câu này như là một lời khuyên chung của tiền bối liên quan đến việc làm giàu. Tôi nghĩ thế này, ngày xưa “thương” chỉ đơn thuần là lái buôn, tức trao đổi hang hóa. Không phủ nhận tầm quan trọng của thương mại, nhưng tôi luôn hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu mỗi xã hội thiếu “thợ” thừa thương? Tức người làm ra thì ít mà kẻ buôn thì nhiều. Điều này có liên quan đến câu nói thứ hai của thôi.

2. Xã hội cần có “thợ” và đủ “thợ” để sản sinh ra một ông chủ: Câu nói thứ hai này liên quan đến chất lượng của “thợ” tức là người trực tiếp làm ra của cải vật chất. Suy rộng ra điều này có liên quan đến sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam và sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam. Chỉ khi nào sản phẩm dư thừa, công nghệ hiện đại, sản xuất vượt trội (tức “thợ” giỏi) thì doanh nghiệp mới vững mạnh và tăng trưởng (tức chủ giỏi) và khi đó thương lái mới có cơ hội để mở rộng giao thương và phân phối hàng hóa.

Tôi nghĩ Việt Nam đang phát triển, tức cần rất nhiều đầu tư cho cơ sở hạ tầng, công nghệ, viễn thông, giao thông rồi xây dựng…tức là chúng ta cần rất nhiều kỹ sư để đảm đương việc kiến thiết cái nền móng cho xã hội. Đây là nhu cầu của nền kinh tế, cũng là nhu cầu của nhà tuyển dụng và phải coi đây là nhu cầu đào tạo “thợ” cứng của giáo dục Việt Nam. Hiện nay công tác tuyển sinh và đào tạo còn ồ ạt, thí sinh thì chọn những nghề thật oách và kiếm nhiều tiền mà quên đi nhu cầu của nền kinh tế. Vẫn còn thiếu rất nhiều những công ty mạnh trong những lĩnh vực xương xẩu, trong khi đội ngũ doanh nhân và thương lái thì tăng một cách không tương xứng sẽ dẫn đến cái tình trạng gọi là “khủng hoảng kép” (thừa chủ, thiếu thợ).

3. Người “thợ” giỏi làm cho người giàu giỏi. Đây là mối quan hệ truyền thống lâu đời trong tuyển dụng. Tôi không chắc là có vấn đề gì từ cái đẳng thức này không, nhưng sự đời thì sẽ mãi luôn như vậy. Nhiều người nghĩ rằng nếu họ giỏi thế thì sao họ phải đi làm thuê cho ông chủ của họ. Nhưng họ quên mất một điều là họ giỏi ở vị trí là một người “thợ”. Khi họ ra làm chủ, họ sẽ thuê mướn lao động nhưng không có gì chắc chắn “thợ” của họ sẽ giỏi như họ. Rồi đến phiên những người “thợ” này rời bỏ họ và làm cho những ông chủ khác hay trở thành những ông chủ, họ cũng sẽ thuê mướn những người “thợ” khác. Và điều làm nên sự khác biệt giữa một ông chủ thành công và chưa thành công thiết nghĩ hoàn toàn được phản ánh trong cái mối quan hệt chủ - thợ ấy: Ai có nhiều “thợ” giỏi hơn người đó sẽ dễ thành công hơn. Suy rộng ra, tại sao họ có nhiều “thợ” giỏi hơn tôi? Có thể họ có cái mà tôi không có, như “bí kíp làm ông chủ” chẳng hạn. Mối quan hệ trên còn đề cập đến sự trung thành, chữ “tín” và cách đối nhân xử thế giữa người chủ và người làm thuê, làm sao để người “thợ” giỏi luôn bên mình mới là một ông chủ giỏi.

4. Muốn làm chủ thì hãy làm “thợ”: Viết tiếp câu nói thứ ba, cũng là để hoàn tất cái vòng thăng tiến sự nghiệp. Nói như thế không có nghĩa là xã hội không cần những doanh nhân mới. Cần lắm chứ. Nhưng cái sự làm doanh nhân nó cũng như là cái sự luyện võ vậy, cũng phải có trường lớp, bài bản, kinh nghiệm và khổ luyện từ một võ sinh đai trắng cho đến một võ sư có một võ đường riêng. Nếu chỉ muốn có một võ đường riêng thì không cần phải luyện tập cực khổ, tiền bạc có thể mua được. Tuy nhiên chỉ cần có tinh thần võ hiệp và cao thượng, một người học võ chân chính đã là một võ sư của chính mình. Tức là trên cái con đường thăng tiến và lập nghiệp ấy, chỉ cần ta có thể nuôi sống ta bằng một nghề (tức là “thợ), có tư duy của một doanh nhân và hướng về cộng đồng thì ta đã có tố chất của một doanh nhân rồi. Công việc khởi nghiệp có thể rủi ro, nhưng rủi ro với doanh nhân cũng là nơi mang lại lợi nhuận.

Ta không cần sở hữu một công ty, nhưng chỉ cần ta có thể quản lý tài sản và tiền bạc của cá nhân và gia đình và làm nó tăng trưởng, ta cũng đã là một nhà đầu tư không chính thức rồi.

Phạm Vinh

Friday, February 19, 2010

Nhà ống và xe gắn máy: diện mạo hay bản sắc?










KTS. Võ Thành Lân

(TBKTSG) - Bộ mặt đô thị là hình ảnh trực tiếp nhất thể hiện khía cạnh văn hóa xã hội của một đất nước. Sắc thái đô thị biểu hiện qua cách tổ chức không gian đô thị và không gian sinh hoạt xã hội.

Trên khía cạnh văn hóa quốc gia về nhận thức, trình độ, cách ứng xử nhìn từ góc độ đại chúng thì gia đình có thể được xem như là tế bào hình thành nên bộ mặt và không gian văn hóa quốc gia. Trong đó cái nết ăn ở của từng tế bào thể hiện và phản ảnh các giá trị cơ bản cấu thành tính cách của một dân tộc.

Người Việt Nam đang sống ở đâu và sống như thế nào trong cái không gian đô thị như hiện nay?

Bỏ qua những nhận định dài dòng mang tính biện minh cho một cái gì đó định sẵn; bỏ qua những câu nệ về văn hóa lịch sử nhì nhằng… Cứ nhìn thẳng vào thực tế những gì đang hình thành và diễn ra ngay trước mắt, không thể chối bỏ sự thực là hiện nay chúng ta đang sống trong những cái chợ, những cái chợ lớn nhỏ tùy theo quy mô của đô thị, của quần cư mà chúng ta đang hít thở và sinh hoạt mỗi ngày.

Vị trí đặt quảng cáo

Những cái chợ theo nghĩa đen nhiều hơn nghĩa bóng với đầy đủ tính chất, đầy đủ các mặt sáng tối của từ này. Những cái chợ này đã xóa hẳn cái tiếng tăm Hòn Ngọc Viễn Đông của Sài Gòn, đã từng ngày nuốt chửng cái không gian thấm đượm màu sắc văn hóa lịch sử của Hà Nội, đè lên cái nét thi ca tự tình của Huế, đang dồn cái không gian lãng mạn ngút ngàn hoa cỏ của Đà Lạt dần đi vào dĩ vãng…

Cái gì mà có sức tàn phá một cách cuồng bạo, chỉ trong một thời gian ngắn đã làm biến thể cả một bộ mặt đô thị, bộ mặt đất nước như thế?

Tại các đô thị lớn nhỏ hiện nay, 90% dân số sống trong các nhà ống và sử dụng xe gắn máy là phương tiện đi lại chính. Nhà ống và xe gắn máy, chắc chắn đã là hình thái của xã hội ta. Có ai hay cơ quan nào xem xét cạn cùng vấn đề này để trả lời câu hỏi: Nhà ống và xe gắn máy là diện mạo hay bản sắc của Việt Nam? Câu trả lời không khó, vấn đề là chúng ta có thực sự nhìn nhận thực tế đó hay còn đang mộng tưởng vào những viễn cảnh đô thị xa vời nào đó hoặc đang để mối quan tâm hoài vọng về những giá trị tinh thần xa lắc trong quá khứ!

Nhà ống và xe gắn máy thực sự đã trở thành biểu tượng quốc gia. Biểu tượng: Hình ảnh + Tinh thần có tính chất phổ biến và trực tiếp tác động lên đời sống xã hội.

Không biết tự bao giờ và nguyên do từ đâu, người Việt bây giờ có lẽ đang sống và sắp đặt cuộc sống của mình theo kiểu đa hướng. Sự đa hướng là nguyên tắc tồn tại một cách có ý thức và vô thức trong suy nghĩ của mỗi người. Ai cũng thấy và cần phải biết làm cùng lúc nhiều việc khác nhau như là phương cách bắt buộc để tồn tại.

Đa phần sinh viên tốt nghiệp kiếm sống bằng công việc chẳng liên quan gì tới việc học trước đó; một quan chức nhà nước có thể ngồi vào bất cứ chiếc ghế nào và xử lý bất cứ loại công việc nào cũng được; trên đồng ruộng nay trồng cây này, mai cây kia và mốt lại hoàn toàn có thể trở thành nền nhà hay sân golf… Nhà văn vừa viết vừa vẽ, nhạc sĩ vừa hát vừa phục vụ bia rượu cho các “thượng đế”, từ người mới biết đọc biết viết đến các bậc học giả ai cũng nói pha trộn lẫn lộn vào tiếng Việt cùng lúc mấy loại tiếng nước ngoài, tiền đồng, tiền đô, tiền Nhật, tiền châu Âu đều xài được.

Kiến trúc sư thường xuyên được các thân chủ yêu cầu thiết kế với tiêu chí: nhà tôi phải vừa ở vừa kinh doanh được, mặt bằng dành cho kinh doanh phải đáp ứng được nhiều dạng kinh doanh khác nhau, cụ thể là có thể cho thuê văn phòng, mở tiệm cắt tóc gội đầu, khi cần có thể cải biên thành quán ăn, khách sạn hay tiệm mát-xa… Thực tế trên đường phố hiện nay, có thể bên cạnh trụ sở công an là quán nhậu, rồi thì tiệm tạp hóa, thời trang, nhà giữ trẻ, quán karaoke, tiệm ăn… Ở đâu cũng kinh doanh mua bán, mua bán từ trong nhà ra tới lòng lề đường, đứng ngồi đủ kiểu. Người ta luôn cần một ngôi nhà đa dụng, mà một ngôi nhà đa dụng tốt nhất nên là một ngôi nhà mặt tiền.

Có cầu ắt có cung, thế là đô thị cứ lan rộng, nhiều khu đô thị mới đua nhau mọc lên với nhiều đường sá được xây dựng để đáp ứng nhu cầu mặt tiền. Nếu đô thị hiện hữu đã là những cái chợ thì đô thị mới cũng vậy, số vụ tai nạn giao thông không kiềm chế được bởi vì bây giờ người ta làm đường để bán đất chứ đâu phải để dùng cho giao thông!

Vấn đề đô thị lan rộng đã được thế giới rút ra nhiều bài học cay đắng, đô thị càng lan rộng thì không gian đô thị càng lâm vào bế tắc trên mọi mặt: giao thông, môi trường cảnh quan, phúc lợi xã hội… cộng thêm tệ nạn xã hội lan tràn không kiểm soát được, sự cân bằng môi trường sinh thái bị phá vỡ không gì cứu vãn được.

Đã là nhà ống thì nhất thiết phải sử dụng xe gắn máy. Phương tiện này có sự hữu hiệu không thay thế được. Chiếc xe gắn máy chiếm rất ít chỗ trong nhà, già trẻ, lớn bé, nam nữ đều sử dụng được, tiện lợi cho mọi mục đích đi lại và chuyên chở, khi cần có thể trở thành phương tiện sinh nhai và nhất là muốn dừng lại ở đâu cũng được. Nhà ống và xe gắn máy là hai mặt không thể tách rời của cơ cấu đô thị hiện nay, chúng tồn tại cộng sinh và như là một điều hiển nhiên tối ưu không phải bận tâm chọn lựa.

Dân tình bây giờ không phải tìm cách thích ứng với cơ cấu xã hội-môi trường đó mà chính là kiểu đô thị chợ với nhà ống và xe gắn máy đang quy định cách sống, cách ứng xử, cách suy nghĩ hay tựu trung màu sắc văn hóa của nó phủ lên toàn bộ đời sống xã hội đến từng cá nhân.

Mới đầu thì tập cho quen, dần dà trở thành tập tính và tư duy của cộng đồng. Tập tính và tư duy của kẻ chợ đó là:

Sống theo kiểu tranh cướp nhau: không gian công cộng điển hình là vỉa hè thuộc quyền sử dụng của kẻ nào ngang ngược và bặm trợn hơn. Người ta không mảy may ưu tư về việc buôn gian bán lận lừa lọc người khác và có khi coi đó như là một thủ thuật kinh doanh tất yếu. Thậm chí có nhiều quan chức còn đặt vấn đề đưa vỉa hè vào thương trường.

Sống ích kỷ và hung bạo: bây giờ người ta sẵn sàng gây hấn, xung đột nhau chỉ vì những nguyên nhân nhỏ nhặt nhất, ai cũng tranh được phần mình bất kể quyền lợi và danh dự của người khác. Nam nữ, già trẻ đua nhau vặt trụi một vườn hoa ngày Tết chỉ trong một buổi tối; 500 nhân viên chuyên nghiệp mới đủ để bảo vệ mấy cành đào…?!

Sống mất trật tự, xem thường kỷ cương: bây giờ cái gì cũng chạy, giấy phép loại gì cũng chạy (mà giấy phép bây giờ rất nhiều), con cái đi học cũng chạy, đau ốm vào bệnh viện cũng chạy, chạy thủ tục, chạy án, chạy tới công sở, chạy tới đình chùa miếu mạo, từ người tử tế đến kẻ bất lương tất cả đều phải chạy và hình như việc gì cũng có chỗ để chạy. Sẽ ra sao với một đất nước mà điều không thể vẫn có cơ hội để trở thành có thể và cứ như vậy thì luật pháp và những quy tắc cộng đồng sẽ chỉ dùng để trang trí vì khi đó phần thắng luôn thuộc về kẻ giỏi chạy, biết chạy bất cứ ở đâu và bằng gì!

Và cứ như thế xã hội ngày càng bát nháo, bát nháo không chỉ ở diện mạo của nó mà có sự góp phần một cách vô thức của từng cá thể cấu thành cái không gian giao tiếp, cái không gian tâm tưởng, cái không gian văn hóa…của cộng đồng chúng ta.

Trở lại vấn đề nhà ống và xe gắn máy, đã đến lúc xem xét vấn đề này không đơn thuần như là một diện mạo xã hội mà như một bản sắc quốc gia. Dẫu đau lòng, nhưng phải công nhận đó như là một sự thật hiển nhiên phải đối mặt, đó là một vấn đề văn hóa cấp quốc gia, là bộ mặt đất nước mà lương tri tối thiểu của người có chút suy nghĩ không thể bỏ qua hoặc ngó đi chỗ khác.

Có thể nào gọi là phát triển một khi phúc lợi xã hội ngày càng nghèo đi, diện mạo đất nước ngày càng luộm thuộm, lòng người ngày càng phân tán, nhỏ nhen. Nhiều đường sá được xây dựng, nhiều nhà cao tầng mọc lên, vật chất thời thượng tràn đầy, từ ngữ hiện đại và phong cách luôn được nói tới như một chuẩn mực sống văn minh và hội nhập, nhưng phải chăng đó là một cách để che đậy sự nghèo nàn về tinh thần bên trong và biện minh cho sự tiếp nhận ào ạt màu sắc văn hóa ngoại lai tràn ngập, thúc con người lao vào cái bóng sáng ngoại nhập đó như con thiêu thân lao tới cái bóng đèn, xem đó là cái đích duy nhất, gạt sang một bên và bỏ lại sau lưng sự đằm thắm của nhân cách, sự tĩnh lặng của tinh thần - những giá trị bền vững cần có trên bình diện tồn tại của một cộng đồng, một dân tộc.

Có nhà văn nào đó đã nói một điều làm chúng ta phải suy nghĩ: “Nếu không mục ruỗng từ bên trong thì không có gì từ bên ngoài có thể thâm nhập được”.

Ngôi nhà, không gian sống, tế bào của xã hội bây giờ gần như không còn là nơi gìn giữ những giá trị tinh thần, những giá trị về màu sắc nhân văn riêng biệt trong tâm tính và tâm hồn của mỗi người Việt Nam tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ sau. Gia đình bây giờ tồn tại trong không gian xã hội, nơi mà ngôi nhà được dựng lên như là một giao điểm xã hội với mọi thứ xô bồ ngang dọc, mang đến toàn bộ tác động từ hoàn cảnh và môi trường chung quanh. Cái môi trường xã hội giàu sự đua chen và bắt chước lại rất nghèo về tinh thần và tính nhân văn.

Văn hóa không có trong những mộng ước. Văn hóa tồn tại trong thực tiễn đang diễn ra từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày. Mọi sự nhận định, phê phán, mọi sự mong muốn đều phải được rút ra từ phương pháp đối diện với cuộc đời, đối diện thẳng thắn với cội nguồn của sự việc.

Mọi sự bàn luận, đánh giá sẽ trở nên sáo rỗng nếu không xuất phát từ những định nghĩa có tính chất cốt tử.

Không phải là nhà nghiên cứu khoa học xã hội chuyên nghiệp, không có hệ thống dữ liệu để tổng hợp cho cái nhìn toàn diện; không thông thạo lịch sử và không là nhà nghiên cứu văn hóa…, với cái nhìn hạn hẹp và có phần chủ quan của một kiến trúc sư hay quan sát, cộng thêm chút kiến thức và cảm nhận về lịch sử phát triển đô thị thế giới trên khía cạnh nhân văn, tôi muốn nêu lên một câu hỏi - theo sự chủ quan cá nhân - có ý nghĩa quan trọng và căn bản để tạo tiền đề, điểm xuất phát cho bài toán hoạch định xã hội: “NHÀ ỐNG VÀ XE GẮN MÁY: DIỆN MẠO HAY BẢN SẮC?”.